Xây dựng quy hoạch tài nguyên nước cần khoa học và gắn với thực tiễn

Đó là chỉ đạo của Thứ trưởng Lê Công Thành tại cuộc họp nghe các đơn vị báo cáo về tình hình xây dựng quy hoạch tài nguyên nước chiều ngày 13/2. Tham dự cuộc họp có đại diện Lãnh đạo Cục Quản lý tài nguyên nước, Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia và một số đơn vị trực thuộc Bộ cùng tham gia triển khai xây dựng Quy hoạch.

Báo cáo về Quy hoạch tài nguyên nước hai sông Sê San và Srêpôk, Ông Nguyễn Ngọc Hà - Trưởng ban Điều tra cơ bản tài nguyên nước mặt, Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia cho biết, từ năm 2017 đến nay, Trung tâm đã thực hiện các nhiệm vụ phân chia các tiểu lưu vực và phân vùng quy hoạch với 16 tiểu vùng quy hoạch, trong đó Sê San 6 tiểu vùng và Srêpôk 10 tiểu vùng. Đồng thời, Trung tâm đã tiến hành thu thập tài liệu từ cấp Trung ương, địa phương và các nguồn tài liệu liên quan về khí tượng thủy văn trên lưu vực hai sông này; phân vùng chức năng nguồn nước, điểm phân bổ nguồn nước. Theo đó, nội dung quy hoạch tài nguyên nước lưu vực hai sông Sê San và Srêpôk sẽ tập trung vào 3 nội dung chính gồm: Phân bổ tài nguyên nước, bảo vệ tài nguyên nước và phòng chống tác hại do nước gây ra.

Báo cáo về các dự thảo quy định đối với nội dung quy hoạch mạng lưới trạm quan trắc tài nguyên nước, Phó Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước Nguyễn Minh Khuyến cho biết, xây dựng mạng lưới quan trắc tài nguyên nước là một trong những hoạt động của điều tra cơ bản tài nguyên nước, bao gồm mạng lưới của cả Trung ương và địa phương. Đến thời điểm hiện tại, trên cả nước đã và đang xây dựng, đưa vào vận hành các mạng lưới quan trắc tài nguyên nước như sau:

Đối với mạng quan trắc trung ương: về nước mặt có 27/56 trạm (chiếm khoảng 48% so với quy hoạch); nước dưới đất có 52/113 trạm với tổng số 469/778 điểm quan trắc, 983/1557 giếng quan trắc tài nguyên nước dưới đất. Về mạng quan trắc do địa phương thực hiện, thống kê sơ bộ cho thấy, hiện có 30 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã xây dựng vận hành trạm quan trắc tài nguyên nước của tỉnh; các công trình quan trắc chủ yếu là quan trắc nước dưới đất với tổng số khoảng 500 công trình. Tuy nhiên, với quy định hiện hành chưa cụ thể nên việc triển khai xây dựng các trạm quan trắc tại địa phương vẫn còn một số bất cập về vị trí, do đó, cần có những phương án sửa đổi cho phù hợp với thực tế tại địa phương.

Và để giải quyết các vấn đề nêu trên, Cục Quản lý tài nguyên nước kiến nghị hai phương án xử lý. Phương án thứ nhất là rà soát việc thực hiện theo Quyết định 90/2016/QĐ-TTg năm 2016 về Quy hoạch mạng lưới quan trắc tài nguyên và môi trường quốc gia giai đoạn 2016 -2025, tầm nhìn đến năm 2030 (Quy hoạch 90). Các trạm chưa xây dựng tiếp tục đưa vào Quy hoạch; giữ nguyên Danh mục trạm Trung ương và bổ sung mạng lưới quan trắc tài nguyên nước của tỉnh trên cơ sở đề xuất của tỉnh. Riêng danh mục trạm quan trắc tài nguyên nước kết hợp thủy văn vẫn đưa vào mạng quan trắc tài nguyên nước. Phương án 2 là rà soát việc thực hiện Quy hoạch 90, các trạm chưa xây dựng được rà soát điều chỉnh bổ sung thêm trạm vào Danh mục trạm Trung ương theo Quy hoạch 90 và bổ sung cách chọn trạm, cách chọn thông số đo cho mạng quan trắc tài nguyên nước của tỉnh. Riêng danh mục trạm quan trắc tài nguyên nước kết hợp thủy văn vẫn đưa vào mạng quan trắc tài nguyên nước.

Đối với các trạm tài nguyên nước độc lập, Cục Quản lý tài nguyên nước kiến nghị khảo sát xác định vị trí các trạm chưa xây dựng; khảo sát một số vị trí mới, đánh giá và đề xuất trạm quy hoạch mới. Đối với các trạm thủy văn kết hợp, Cục kiến nghị rà soát, đánh giá việc thực hiện Quy hoạch 90. Danh mục trạm này gồm các trạm thủy văn - tài nguyên nước đã và đang xây dựng.

Tại cuộc họp, các đơn vị cũng đã báo cáo và thảo luận thêm về các nội dung về quy hoạch tài nguyên nước của tỉnh; quy hoạch điện lực, tổng quan công tác lập quy hoạch thủy lợi,…bảo đảm phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và các chiến lược, quy hoạch khác có liên quan đã được phê duyệt.Kết luận tại cuộc họp, Thứ trưởng Lê Công Thành đề nghị Cục Quản lý tài nguyên nước lưu ý về cách thức, quy trình thu thập thông tin, dữ liệu phục vụ xây dựng quy hoạch bảo đảm tính khoa học, khả thi và hiệu quả; đặc biệt để bảo đảm tính đầy đủ và chi tiết của dữ liệu, tránh việc thu thập dữ liệu nhiều lần…

"Quy hoạch tài nguyên nước chính là bộ dữ liệu, công cụ và quy tắc, do vậy, cần quy hoạch một cách khoa học mà vẫn gắn theo thực tiễn để đáp ứng yêu cầu quản lý tài nguyên nước hiện nay. Cục Quản lý tài nguyên nước cùng các đơn vị liên quan cần xác định rõ nội dung quy hoạch nào cần cho công tác quản lý trong giai đoạn tới” – Thứ trưởng Lê Công Thành chỉ đạo.
 

17 2 2020 5
Toàn cảnh cuộc họp

BBT (Nguồn: Cổng TTĐT Bộ TN&MT)

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

hc.jpg kt.jpg 1.jpg 2.jpg 3.jpg
phananh kiennghi

DVCQG

ddn

pctt

Bien Dong

CSDL QG TTHC

congbaochinhphu

congbaokontum

asean

ThuDec13135421ICT2018 cptpp

thudientu

vbdh

lich tiep cong dan

khamphaKT

kk

quan trac

quy dat

aa

CSDLQGVBPL

VBCDDH UBND tinh

ttc

DAN HOI

he sinh thai khoi nghiep

vb

images

bgd

banner block phai NEW
Liên kết site

 

Online
  • Đang truy cập33
  • Máy chủ tìm kiếm3
  • Khách viếng thăm30
  • Hôm nay5,976
  • Tháng hiện tại119,072
  • Tổng lượt truy cập4,748,369
Văn bản pháp luật mới cập nhật
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây