Bộ TN&MT thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, đẩy mạnh cải cách hành chính, tháo gỡ khó khăn, tạo động lực tăng trưởng bứt phá

Từ đầu năm đến nay, trong bối cảnh tình hình kinh tế - xã hội của đất nước gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của dịch Covid-19, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã quyết liệt chỉ đạo triển khai thực hiện các Nghị quyết số 01/NQ-CP, Nghị quyết 02/NQ-CP của Chính phủ và Chỉ thị số 11/CT-TTg ngày 04/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ về các nhiệm vụ, giải pháp cấp bách tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, bảo đảm an sinh xã hội ứng phó với dịch Covid-19; tiếp tục chỉ đạo tăng cường kỷ luật kỷ cương hành chính, tập trung hoàn thiện thể chế, đổi mới cơ chế, chính sách, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tháo gỡ khó khăn để kiến tạo, tạo động lực tăng trưởng bứt phá.

Xây dựng hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh

Về xây dựng hoàn thiện chủ trương, chính sách, pháp luật, Bộ đã xây dựng các chủ trương lớn trong quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và góp ý cho Văn kiện Đại hội đảng bộ các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Tập trung hoàn thiện dự án Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi), dự kiến trình Quốc hội xem xét, thông qua tại kỳ họp thứ 10 (tháng 10/2020). Trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành 07 văn bản dưới Luật hoàn thiện hành lang pháp lý cho việc quản lý hoạt động khí tượng thủy văn; bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất đối với các dự án đầu tư công thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư, chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ; quản lý cát, sỏi lòng sông và bảo vệ lòng, bờ, bãi sông; ban hành quy định xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực: đo đạc và bản đồ, tài nguyên nước và khoáng sản; ứng phó với sự cố chất thải. Trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội dự thảo Nghị quyết về quản lý, sử dụng đất quốc phòng, an ninh vào hoạt động lao động sản xuất, xây dựng kinh tế; trình Chính phủ dự thảo Nghị định về đánh giá sơ bộ tác động môi trường. Tiếp thu ý kiến thành viên Chính phủ để hoàn thiện các Nghị định: sửa đổi bổ sung Nghị định số 51/2014/NĐ-CP quy định về việc giao các khu vực biển nhất định cho tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên biển; sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; Nghị định sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật đất đai; Nghị định quy định về khuyến khích tập trung, tích tụ đất đai cho sản xuất nông nghiệp… nhằm tháo gỡ các nút thắt vướng mắc từ thực tiễn, nâng cao năng lực cạnh tranh, thu hút nguồn vốn đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội. Xây dựng trình Thủ tướng Chính phủ 06 đề án. Ban hành theo thẩm quyền 10 thông tư. Trình và được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành 06 Nghị định, 03 Nghị quyết, 04 Quyết định. Triển khai Tổng kết thi hành Luật đất đai và sửa đổi Luật đất đai năm 2013.

Tăng cường thanh tra, kiểm tra các vụ việc có dấu hiệu vi phạm, tập trung giải quyết khiếu nại, tố cáo: để tạo điều kiện cho doanh nghiệp phục hồi sau dịch COVID-19, Bộ đã tiến hành rà soát, điều chỉnh Kế hoạch thanh tra, kiểm tra năm 2020 theo hướng giảm bớt số lượng đối tượng và tập trung thanh tra đối với các trường hợp có dấu hiệu vi phạm pháp luật. Trong 9 tháng đầu năm 2020, các đơn vị thuộc Bộ đã tiến hành 75 cuộc thanh tra, kiểm tra đối với 247 tổ chức, gồm: 01 cuộc thanh tra hành chính; 57 cuộc thanh tra, kiểm tra chuyên ngành và 17 cuộc kiểm tra việc thực hiện kết luận thanh tra. Bước đầu, đã ban hành 70 quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền là 15.550 triệu đồng.

Trong 9 tháng qua, Bộ đã thực hiện tiếp 184 lượt với 373 người, có 23 lượt đoàn đông người (193 người). Đã phân loại và xử lý 2.888 lượt đơn khiếu nại, tố cáo (có 1.331 đơn phải xử lý, trong đó 78,44% là khiếu nại đất đai), tăng 13,6% so với cùng kỳ năm 2019. Đã thẩm tra, xác minh 20/25 vụ việc Thủ tướng Chính phủ giao (11 vụ việc từ năm 2019); báo cáo Thủ tướng Chính phủ 08 vụ việc. Thẩm tra, xác minh 33/41 vụ việc thuộc thẩm quyền, trách nhiệm của Bộ (23 vụ việc từ năm 2019), đã có quyết định giải quyết 28 vụ việc; chuyển 05 vụ việc đến đơn vị chức năng để xem xét giải quyết.

Về kiện toàn tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực và cải cách hành chính, Bộ đã rà soát quy hoạch định hướng mạng lưới các đơn vị sự nghiệp công lập của ngành, rà soát chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức; đánh giá kết quả, hiệu quả hoạt động và đề xuất phương án kiện toàn tổ chức bộ máy các đơn vị thuộc Bộ theo Nghị định số Nghị định số 101/NĐ-CP và sơ kết đánh giá thực hiện Nghị quyết số 21/NQ-CP ngày 21/3/2016 của Chính phủ về phân cấp quản lý nhà nước giữa Chính phủ và UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường. Chỉ đạo chấn chỉnh, tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, phòng ngừa vi phạm, tiêu cực, tham nhũng trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; triển khai Quy định 205-QĐ/TW ngày 23/9/2019 của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền.

Ban hành 12 chương trình, kế hoạch nhằm đẩy mạnh công tác CCHC của Bộ; kế hoạch triển khai thực hiện cung cấp dịch vụ công trên môi trường điện tử; triển khai Nghị quyết số 68/NQ-CP của Chính phủ ban hành Chương trình cắt giảm, đơn giản hóa quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh giai đoạn 2020-2025; công bỗ bãi bỏ 26 TTHC thuộc lĩnh vực môi trường. Các chỉ số về cải cách có sự chuyển biến: chỉ số tiếp cận đất đai trong chỉ số năng lực canh tranh (tăng 0,27 điểm theo báo cáo của PCI), tăng mức độ hài lòng về dịch vụ cấp Giấy chứng nhận lên 13% so với năm 2016. Chỉ số CCHC năm 2019 của Bộ đạt 84.78/100 điểm (xếp thứ 7 trên tổng số 17 các bộ, cơ quan ngang bộ; tăng 02 bậc so với năm 2018).

Về công tác kế hoạch, tài chính và đầu tư phát triển: Bộ đã chỉ đạo, điều hành, tổ chức triển khai nhiệm vụ tài chính, ngân sách bám sát Nghị quyết số 01/NQ-CP về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và Dự toán ngân sách nhà nước năm 2020; ưu tiên đầu tư các nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách đặt ra đối với ngành;… Bộ đã có báo cáo về cắt giảm, tiết kiệm chi thường xuyên 6 tháng cuối năm 2020 của Bộ là 8.383 triệu đồng. Hoàn thành việc xây dựng Kế hoạch Dự toán NSNN năm 2021 và Kế hoạch tài chính - ngân sách 3 năm 2021-2023 gửi Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan.

Tăng cường hợp tác quốc tế và khoa học, công nghệ: Bộ đã rà soát hiệp định, điều ước quốc tế song phương và đa phương để đề xuất thể chế hóa trong chính sách, pháp luật về tài nguyên và môi trường; tổ chức các hoạt động đối thoại, diễn đàn trực tuyến như: Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF), đàm phán Hội nghị Liên Chính phủ về văn kiện pháp lý quốc tế trong khuôn khổ Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 về bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học biển tại các vùng biển nằm ngoài phạm vi tài phán quốc gia (BBNJ); Hội nghị Bộ trưởng Môi trường G20, Hội nghị Bộ trưởng GMS lần thứ 24.

Công tác ứng dụng công nghệ thông tin tiếp tục được đẩy mạnh, Bộ đã hoàn thành nâng cấp Cổng Dịch vụ công trực tuyến của Bộ và Hệ thống thông tin một cửa điện tử của Bộ. Triển khai thử nghiệm kết nối, tích hợp dùng chung hệ thống thanh toán trực tuyến của Cổng Dịch vụ công Quốc gia và đã tích hợp, cung cấp 17 TTHC (32 DVCTT mức độ 3, 4) lên Cổng Dịch vụ công Quốc gia (đạt chỉ tiêu, kế hoạch năm 2020 được Chính phủ giao tại Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 01 tháng 01 năm 2020 và Thủ tướng Chính phủ giao tại Quyết định số 411/QĐ-TTg ngày 24 tháng 3 năm 2020) và sẵn sàng tích hợp thêm 55 DVCTT mức độ 3, 4 lên Cổng Dịch vụ công Quốc gia trong năm 2020.

Triển khai 108 DVC trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công trực tuyến của Bộ, trong đó có 53 DVC mức độ 3, 55 DVC mức độ 4, đạt khoảng 50,9% (trong đó 01 DVC kết nối liên thông đến địa phương và 05 DVC kết nối liên thông với Hệ thống hải quan một cửa quốc gia). Bộ đã rà soát, cập nhật chỉ tiêu thông tin, quy trình thực hiện đối với 06 thủ tục đang vận hành trên Cổng thông tin một cửa quốc gia bảo đảm phù hợp với quy định đã được sửa đổi, bổ sung tại Điều 3 Nghị định số 40/2019/NĐ-CP trên hệ thống xử lý chuyên ngành của Bộ. Kết nối, tích hợp Cổng Dịch vụ công trực tuyến của Bộ với Hệ thống dịch vụ thanh toán điện tử VNPay cho phép tổ chức, doanh nghiệp, người dân thanh toán phí, lệ phí (nếu có) trực tuyến khi thực hiện thủ tục hành chính.

Việc xử lý văn bản, hồ sơ công việc thực hiện trên môi trường điện tử (trừ văn bản mật) qua Trục liên thông văn bản quốc gia đạt tỷ lệ 98%. Hoàn thành xây dựng, nâng cấp, vận hành Hệ thống thông tin báo cáo tổng hợp ngành tài nguyên và môi trường (tại địa chỉ: https://bcth.monre.gov.vn), đáp ứng đầy đủ các nghiệp vụ báo cáo theo quy định của Chính phủ, các chế độ báo cáo định kỳ thuộc phạm vi chức năng, quản lý nhà nước của Bộ, các yêu cầu về chức năng, tính năng, tiêu chuẩn kỹ thuật, cấu trúc định dạng dữ liệu theo quy định. Hiện nay, Bộ đã hoàn thành một số nội dung triển khai kết nối thử nghiệm với Hệ thống thông tin báo cáo Chính phủ.

Các nhiệm vụ trọng tâm 3 tháng cuối năm 2020

Nhằm đảm bảo hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra trong Chương trình công tác năm, Chương trình hành động của ngành thực hiện các Nghị quyết: số 01/NQ-CP, số 02/NQ-CP của Chính phủ, thời gian tới, Bộ Tài nguyên và Môi sẽ tập trung vào các nhiệm vụ trọng tâm sau:

Tập trung rà soát, chỉnh lý dự thảo Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi) trình Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 10. Triển khai tổng kết thi hành Luật đất đai, Nghị quyết số 19-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI và sửa đổi toàn diện Luật đất đai năm 2013. Tiếp tục đề xuất những quan điểm, chủ trương lớn về quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó với BĐKH trong văn kiện trình Đại hội đảng toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Trình ban hành và phê duyệt 37/53 đề án, văn bản QPPL còn lại trong Chương trình công tác, Chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật năm 2020 của Bộ.

Tập trung thanh tra, kiểm tra các trường hợp doanh nghiệp có dấu hiệu vi phạm; giải quyết khiếu nại, tố cáo nhất là các vụ việc Thủ tướng Chính phủ giao và các vụ việc tồn đọng kéo dài để đảm bảo ổn định trật tự, chính trị xã hội không để xảy ra các điểm nóng phức tạp.

Xây dựng phương án sắp xếp kiện toàn tổ chức bộ máy theo Nghị định số 101/2020/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ, cơ quan ngang bộ. Nghiên cứu sửa đổi Thông tư hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn về tài nguyên và môi trường trực thuộc Ủy ban nhân dân các cấp, thay thế Thông tư liên tịch số 50/2014/TTLT-BTNMT-BNV. Rà soát, tổng hợp thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức và xây dựng Kế hoạch biên chế công chức năm 2021...

Triển khai xây dựng, ban hành các quy chuẩn, tiêu chuẩn quốc gia; đôn đốc thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học đảm bảo tính khả thi, khả năng ứng dụng vào thực tiễn. Tập trung xây dựng các cơ sở dữ liệu đất đai, tài nguyên; triển khai thực hiện tái cấu trúc quy trình nghiệp vụ, sửa đổi, bổ sung các quy định cung cấp dịch vụ công đối với 02 nhóm TTHC ưu tiên liên quan đến đánh giá tác động môi trường và đăng lý biến động đất đai, thực hiện cung cấp dịch vụ công kết nối cổng Dịch vụ công quốc gia theo đúng lộ trình đã đăng ký với Văn phòng Chính phủ. Đưa vào vận hành chính thức Trung tâm điều hành thông minh và hệ thống báo cáo của ngành kết nối từ Trung ương đến địa phương.

Giải quyết các nút thắt, rào cản, tạo lập môi trường thuận lợi trong tiếp cận đất đai để thu hút nguồn vốn đầu tư. Hoàn thành công bố kết quả kiểm kê đất đai trong tháng 11/2020; lập quy hoạch sử dụng đất quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050; hướng dẫn các địa phương lập, phê duyệt quy hoạch sử dụng đất cấp huyện và kế hoạch sử dụng đất năm 2021. Tập trung xây dựng hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu đất đai. Triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án tăng cường quản lý đối với đất đai có nguồn gốc từ các nông, lâm trường quốc doanh. Kịp thời giải quyết, tháo gỡ các vướng mắc trong quá trình triển khai các dự án trọng điểm của quốc gia.

Trình Chính phủ Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 82/2017/NĐ-CP ngày 17/7/2017 của Chính phủ quy định về phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước. Xây dựng Quy hoạch tài nguyên nước quốc gia và 11 lưu vực sông liên tỉnh, nguồn nước liên tỉnh thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Dự báo tình hình suy thoái, cạn kiệt, xâm nhập mặn nguồn nước; chỉ đạo điều hoà nguồn nước cho các mục đích sử dụng nước bằng công cụ quan trắc, giám sát tự động trên cơ sở các quy hoạch và hạn ngạch cấp phép khai thác sử dụng nguồn nước. Trình báo cáo về các đối sách trong hợp tác, chia sẻ tài nguyên nước xuyên biên giới.

Phát huy nguồn lực khoáng sản cho phát triển kinh tế đất nước. Đẩy mạnh việc đấu giá quyền khai thác khoáng sản. Hoàn thành việc xây dựng quy chế phối hợp quản lý khoáng sản ở khu vực giáp ranh hai hay nhiều tỉnh nhất là khoáng sản cát, sỏi lòng sông; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động thăm dò, khai thác khoáng sản nhất là đối với công tác thống kê, kiểm kê trữ lượng khoáng sản, xác định sản lượng khoáng sản khai thác thực tế; thanh tra, kiểm tra hoạt động khoáng sản gắn với bảo vệ môi trường; kiên quyết xử lý đối với hành vi vi phạm pháp luật về khoáng sản và môi trường; thực hiện tốt công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về quản lý khai thác cát, sỏi.

Triển khai lập Quy hoạch Không gian biển và Quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Chương trình trọng điểm điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo. Chuẩn bị các nội dung, kế hoạch để triển khai tổ chức phiên họp lần thứ nhất của Ủy ban quốc gia thực hiện Chiến lược phát triền bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Xây dựng Đề án phát triển đội tàu điều tra, khảo sát, nghiên cứu biển. Tiếp tục nghiên cứu đề xuất các giải pháp hoàn thiện cơ sở dữ liệu điều tra cơ bản biển, hải đảo để nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước, bảo đảm số hóa, tích hợp và chia sẻ với các địa phương ven biển. Thẩm định các hồ sơ đề nghị cấp phép nhận chìm, hồ sơ đề nghị giao khu vực biển.

Tập trung xây dựng các Nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành; quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường ngay sau khi Quốc hội thông qua Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi). Triển khai kiểm kê diện tích đất ngập nước, lập quy hoạch về môi trường. Phối hợp với Văn phòng Chính phủ để sớm trình Thủ tướng phê duyệt 02 đề án; 03 Chỉ thị. Tiếp tục rà soát, điều chỉnh hoặc xây dựng mới các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm về công tác quản lý môi trường, hệ thống pháp luật, tiêu chuẩn môi trường của các nước phát triển trên thế giới. Phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương giải quyết các vấn đề ô nhiễm môi trường lớn, phức tạp, nhạy cảm, được sự quan tâm của toàn xã hội; chủ động phòng ngừa, giám sát, kiểm soát các dự án, nguồn thải có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường.

Triển khai nhiệm vụ lập Quy hoạch mạng lưới trạm KTTV quốc gia đến năm 2050; lồng ghép mạng lưới quan trắc tài nguyên và môi trường từ các lĩnh vực của Bộ; nâng cấp và đưa vào hoạt động chính thức một số trạm KTTV trên phạm vi toàn quốc. Theo dõi, giám sát công tác dự báo và các đợt thiên tai, đánh giá chất lượng dự báo, cảnh báo KTTV của các đơn vị thuộc hệ thống dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn quốc gia. Dự báo diễn biến dòng chảy, thủy văn, cảnh báo sớm chi tiết đối các đợt mưa lũ lớn để chỉ đạo vận hành an toàn hồ chứa thủy lợi, thủy điện, hồ đập, đê điều. Thực hiện xã hội hóa trong cung cấp dịch vụ dự báo khí tượng thủy văn.

Đẩy mạnh công tác truyền thông, ban hành Quy chế phối hợp, giám sát việc thực hiện Nghị quyết số 120/NQ-CP về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với BĐKH; trình ban hành quy định về hệ thống đo đạc, báo cáo, thẩm định (MRV) giảm nhẹ phát thải khí nhà kính cấp quốc gia; ban hành tiêu chí xác định các dự án, nhiệm vụ thích ứng với biến đổi khí hậu và đánh giá hiệu quả của các hoạt động thích ứng với biến đổi khí hậu; Kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến 2050; tiêu chí xác định các dự án, nhiệm vụ thích ứng với BĐKH và đánh giá hiệu quả của các hoạt động thích ứng với biến đổi khí hậu. Nghiên cứu xây dựng đề án đề xuất giải pháp phát triển bền vững vùng miền Trung, Tây Nguyên thích ứng với BĐKH.

Trình phê duyệt Chiến lược phát triển ngành Đo đạc và Bản đồ Việt Nam và xây dựng hạ tầng dữ liệu không gian địa lý. Xây dựng cơ sở dữ liệu địa lý quốc gia và Cổng thông tin địa lý phục vụ quy hoạch và để triển khai các ứng dụng thông minh, tự động hóa. Khai thác hiệu quả mạng lưới trạm định vị vệ tinh cho các mục đích phát triển kinh tế - xã hội.

Trình Thủ tướng Chính phủ đề án Tăng cường năng lực quản lý viễn thám; Chương trình KH&CN trọng điểm cấp quốc gia nghiên cứu ứng dụng công nghệ viễn thám phục vụ phát triển kinh tế xã hội và quốc phòng - an ninh. Tiếp tục phối hợp với Tổ chức Nghiên cứu vũ trụ Ấn Độ (ISRO) để đẩy nhanh tiến độ dự án ASEAN - Ấn Độ tại Bình Dương. Hoàn thiện đề xuất Dự án hợp tác với Italia về trạm thu ảnh Cosmo-Skymed.

Cùng với các nhiệm vụ trên, cần tiếp tục tăng cường tuyên truyền về việc tổ chức Đại hội Đảng các cấp; Đại hội thi đua yêu nước ngành tài nguyên và môi trường. Các Trường tăng cường phối hợp với các Viện nghiên cứu, các đơn vị quản lý nhà nước xây dựng chương trình đào tạo và phối hợp đào tạo để bảo đảm phù hợp với nhu cầu nguồn nhân lực của ngành./.

BBT (Nguồn: Cổng TTĐT Bộ TN&MT)

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

hc.jpg kt.jpg 3.jpg 1.jpg 2.jpg
phananh kiennghi

DVCQG

ddn

pctt

Bien Dong

CSDL QG TTHC

congbaochinhphu

congbaokontum

asean

ThuDec13135421ICT2018 cptpp

thudientu

vbdh

lich tiep cong dan

khamphaKT

kk

quan trac

quy dat

aa

CSDLQGVBPL

VBCDDH UBND tinh

ttc

DAN HOI

he sinh thai khoi nghiep

vb

images

bgd

banner block phai NEW
Liên kết site

 

Online
  • Đang truy cập26
  • Hôm nay350
  • Tháng hiện tại165,767
  • Tổng lượt truy cập5,254,635
Văn bản pháp luật mới cập nhật
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây